vanbao
03-16-2009, 10:26 AM
Tùy theo trình độ thưởng thức và quan niệm thẩm mỹ của mỗi người mà cây kiểng được uốn sửa thành nhiều dạng thức khác nhau, trong đó cây kiểng cổ truyền thống là một tác phẩm nghệ thuật sống đã tồn tại khá lâu đời ở đất phương Nam và nó đã đi vào hồn, váo tâm thức của người chơi kiểng. Có người còn coi cây kiểng như một tác phẩm sống có hồn, có khí, có thần, bởi thế khi trong nhà có người mất, gia đình cũng dành cho cây kiểng một vành khăn tang. Khởi nguồn kiểng cổ Nam bộ? Tên gọi “kiểng cổ” nhằm phân biệt với “kiểng thế” ở miền Bắc và "kiểng Bonsai” của Nhật mới truyền bá vào nước ta khoảng nửa thế kỷ nay. Trước đó, cây trồng để làm cảnh thường được gọi là cây cành, cây kiểng, cây thế hoặc cổ mộc. Trong cuốn Vũ trung tùy bút, tác giả Phạm Đình Hổ viết: “Thú chơi cây cảnh đã có từ đời Hán bên Trung Quốc nhằm ký thác những hoài bảo cao cả”. Cây kiểng cổ Nam bộ rất đa dạng, phong phú nhưng ông cha ta hầu như không để lại cho hậu thế một tài liệu nào chính thống mà chỉ lưu truyền theo kiểu cha truyến con nối, ít ai biết rõ loại hình nghệ thuật này có từ thời nào, xuất phát từ đâu? Do đó, khi bàn về nguồn gốc kiểng cổ Nam bộ đã có rất nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kíến cho rằng kiểng cổ Nam bộ xuất phát từ nghệ thuật cây cảnh cung đình triều Nguyễn rồi phổ biến ra các nhà quyền quý cao sang, sau mới tới dân dã. Chẳng hạn như: Vua chơi trắc, bá; các bậc đại thần chơi cây loan; các bậc nho sỉ chơi cây si; còn giới phong lưu chơi cây liễu (1). Tác giả Thá Văn Thiện, tron bài viết “Kiểng cổ miền Nam”(2), cho rằng: từ khi Nguyễn Hữu Cảnh đưa dân vào Nam lập ấp, họ chơi và ốn sửa cây kiểng theo các kiểu dáng riêng với chủ ý nói lên đạo làm người. Còn tác giả cuốn “Kỹ thuật Bonsai” thì cho rằng kiểng cổ bắt nguồn từ vườn thượng uyển, là nơi giải trí cho các thân tộc hoàng cung hay các vị cao cấp của triều đình. Cách đây không lâu, tôi có dịp ghé thăm cụ Ngô Văn Bi ở Gò Công, một người rất say mê cổ ngoạn và cây kiểng từ nhỏ (nay cụ đã qua đời, hưởng thọ 109 tuổi). Cụ nói: “Kiểng cồ miền Nam ra đời trong bối cảnh nhà Nguyễn kiến thiết đất nước và củng cố triều đình cho nên các nho sỉ là những người đầu tiên nghĩ ra cách chơi, cách tạo giáng thế theo quan niệm Nho giáo nhằm đề cao đạo đức thánh hiền”. Nói chung, hầu hết các ý kiến đều thừa nhận các quan triều Nguyễn trong quá trình đưa dân vào Nam lập nghiệp đã phổ biến cách uốn sửa cây kiểng theo tư tưởng Nho giáo nhằm mục đích giáo dục thần dân đạo nghĩa làm người. Ông Nguyễn Văn Đủ, một người am hiểu về kiểng cổ cũng đã viết: ”Các quan đại thần chơi kiểng nhằm mục đích cải hoá nhà vua, còn vua Nguyễn thì khuyến khích thần dân chơi kiểng để nâng cao đạo lý luân thường”. (3) Nhà nghiên cứu Hùynh Ngọc Trảng đã đưa ra nhận định:”Khoảng đầu thế kỷ này, hệ quả của những biến động lịch sử, tư tưởng, giới chơi kiểng Nam bộ lần lần từ bỏ các chuẩn tắc Nho giáo chuyền sang quan niệm lão Trang …”. Đứng như vậy, đất nước trải qua biết bao đổi thay, tuy cây kiểng cổ vẫn tồn tại và phát triển, nhưng do các trường phái công viên Âu Mỹ đã dần dần lấn áp và phá vở những nguyên tắc chuẩn mực của cây kiểng truyền thống. Đặc biệc là kiểng Bonsai của Nhật phát triển ngày càng mạnh tưởng chừng như cây kiểng cổ không còn mãnh đất dung thân, nhưng với bản sắc và bản lĩnh độc đáo của mình, cây kiểng cổ vẫn vượt qua mọi thử thách để tồn tại và làm giàu cho nghệ thuật cây kiểng Việt Nam. Gần đây, do chịu ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng, văn hoá phương Tây, nhiều anh em đã dần dần cách tân và uốn sửa cây kiểng cổ thành những kiểu thức đơn giản mang tính địa phương, ít nhiều đã phá vỡ những nguyên tắc chuẩn mực của cây kiểng cổ truyền thống và ngày càng có xu hướng phóng khoáng hơn khiến cho mỗi nơi mỗi khác và cuối cùng không sao tránh được tam sao thất bổn. GIÁ TRỊ THẨM MỸ CỦA CÂY KIỂNG CỔ TRUYỀN THỐNG Một cây kiểng cổ lý tưởng trước hết phải thể hiện được sự quân bình thiêng liêng trong vũ trụ, người sành điệu về kiểng cổ cũng là người biết chút ít về dịch lý, về nguyên tắc “âm cực dương sinh” và “dương cực âm sinh” để điều phối và uốn sửa các tàn chi theo đúng quy luật. Ba yếu tố thiên, địa, nhân (ngọn cây, thân cây và gốc rễ) được coi là những yếu tố quan trọng nhất để người nghệ sĩ cây cảnh mang hết tài năng, trí tuệ và bàn tay tài hoa lịch lãm của mình vào việc cắt tỉa, uốn sửa, phân tàn, tạo dáng theo tâm ý riêng của mình. Thí dụ: Số tàng nhánh phải là số lẻ, tượng trung cho dương tính. Cách cành nhánh phải xuất phát từ phần lồi của cây (dương). Trường hợp cành mọc ở phía lõm (âm) thì phải uốn vòng qua thân cây theo hướng ngược lại giống như hình chữ nữ. Nếu uốn sửa theo thế phụ tử thì chiều cao của cây tử không được vượt hơn tàn thứ hai của cây phụ. Cây phụ gồm 5 tàn, cây tử 3 tàn. Để đánh giá một cây kiểng đẹp, người ta thường dựa vào vào các tiêu chuẩn kỹ thuật và mỹ thuật thông qua hình tượng: Nhất hình, nhì thế, tam chi, tứ diệp. Hình tức là thân cây, tượng trung cho thiên đạo, gốc phải to và nhỏ dần lên ngọn. Thế tượng trưng cho nhân đạo, do bàn tay con người tác động vào để tạo ra những dáng thế mà con người muốn ký thác vào trong đó. Chi tức là cành nhánh, tượng trưng cho thần, có nhánh cong lên (dương), có nhánh chúc xuống (âm). Nhánh dưới phải dài và lớn hơn nhánh trên. Diệp tượng trung cho đạo làm con. Lá cây phải tương xứng và phù hợp với khối lượng cànhy nhánh. Cùng một loại cây, cây nào lá càng nhỏ càng có giá trị nghệ thuật cao. Tốm lại, kiểng cổ là loại kiểng được uốn sửa công phu theo những nguyên tắc nhất định giống như một bài thơ Đường luật. Đó là một tác phẩm nghệ thuật sống, đúng tàn đúng thế, đúng điệu, không thừa không thiếu, mỗi chi tiết đều mang một ý nghĩa mà tác giả muốn gởi gắm trong đó “tâm ư trung, hình ư ngoại”. Ý NGHĨA LUÂN LÝ, TRIẾT LÝ CỦA CÂY KIỂNG CỔ. Theo quan niệm của ông cha ta, cây kiểng lá một loại hình nghệ thuật mang tính trtiết lý Nho giáo và Lão giáo, do đó chơi kiểng trước hết là để thư giản tâm hồn, kế đến là tư tâm dưỡng tính và dạy con cháu biết cách đối nhân xử thế. Hầu hết các cây kiểng xưa đều uốn sử theo phép tắc lễ nghi, đạo đức thánh hiền, điển hình như thế phụ tử, mẫu tử, phu phụ, xuy phong, trực lập … đều có ý nghĩa luân lý và triết lý. Tùy theo tâm ý của mỗi người, nếu uốn ngọn cao lên thì gọi là tàn võ, uốn thấp hơn thì gọi là tàn văn. Có người lại thích kiểu trung dung vừa văn vừa võ. Nói đến thế tam cương ngũ thường, có người lý giải tam cương là ba đoạn thân ở giữa cây và năm nhánh lá làm thành bốn tầng và một tán ở đỉnh thể hiện cho ngũ thường. Còn thế tam tòng tứ đức, cây cũng chia làm ba đoạn và bốn tầng thể hiện bốn đức tính: công, dung, ngôn, hạnh của người phụ nữ. Cây xuy phong mẫu tử, thế tam tòng tứ đức thường được uốn sửa một cách mềm mại, uyển chuyển, thiêng về âm tính, tượng trung cho nữ giới. Còn cây xuy phong phụ tử, thế tam cương ngũ thường, tượng trưng cho nam giới vì dáng thế mạnh mẽ, hùng tráng, thiêng về dương tính. Kiểng cổ ít người chơi một cây đơn điệu mà thường chơi theo bộ, phổ biến nhất là bộ hai cây đối xứng. Bộ ba cây còn gọi là tam thanh hay tam tài gồm cây trực ở giữa và hai cây xuy phong hoặc mẫu tử ở hai bên. Bộ bốn cây thường uốn sửa theo hình long, lân, qui, phụng. Bộ năm cây còn gọi là ngũ phúc. Cây trực xếp ở giữa, hai cây cặp giống nhau xếp đối xứng ở hai bên. Trong cuộc hội thảo về kiểng cổ Nam bộ do Hội Hoa lan Cây cảnh tỉnh Cần Thơ kết hợp với Hội Hoa lan Cây cảnh tp Hồ Chí Minh diễn ra năm 2000 tại Trường đại học Cần Thơ, hầu hết các đại biểu tham dự đều đánh giá kiểng cổ Nam bộ là một tác phẩm cổ kính, thâm trầm, không những là một tác phẩm nghệ thuật sống mà còn là một di sản văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc. Việc tham gia vào thú chơi hoa kiểng nói chung và ý thức phục hồi, gìn giữ và phát huy cây kiểng cổ Nam bộ nói riêng là một việc làm rất đáng trân trọng nhằm góp phần nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần và hướng mọi người vươn tới cái đẹp – cái đẹp trong mối quan hệ giữa con người với con người và con người với thiên nhiên.